Cơ sở học tập Morin và những năm tháng sinh viên

Lê Hoàng Cư
Bài này viết về một trong những cơ sở của Đại học Tổng hợp Huế; đó là cơ sở Morin, số 1 Hoàng Hoa Thám, Huế – cửa chính của trường lúc đó mở hướng về đường Hoàng Hoa Thám (bây giờ là khách sạn Morin Saigon, số 30 Lê Lợi, Huế – cửa chính mở ra đường Lê Lợi).

Có lẽ rất ít cựu sinh viên Đại học Tổng hợp Huế các khóa sau và sinh viên Đại học Khoa học Huế bây giờ biết rằng khách sạn Sài Gòn Morin bây giờ đã từng là cơ sở chính của trường Đại học Tổng hợp Huế vì chỉ có 3 khóa sinh viên đầu tiên được học ở cơ sở này. Ba cơ sở chính thời kỳ đầu của ĐHTH Huế là số 3 Lê Lợi (Viện Đại học Huế), 27 Nguyễn Huệ (trường Thiên Hựu) và cơ sở Morin – một cơ sở khác cũng thuộc quyền quản lý của ĐHTH là Thư viện Huế.

Tuy các bạn có thể dễ dàng tìm thông tin về Morin; tôi cũng xin giới thiệu sơ về cơ sở này:

Khách sạn Morin do một doanh nhân người Pháp tên là Bogarde xây dựng và đưa vào kinh doanh từ năm 1901. Trận bão năm 1904 đã làm khách sạn hư hại nặng, một nhà buôn người Pháp khác tên là Alphonese Guerin mua lại, cho sửa chữa và đưa vào hoạt động lại từ năm 1905 với tên gọi “Le Grand Hotel”. Năm 1907, anh em nhà Morin làm chủ và quản lý khách sạn, họ đặt tên mới là “Morin Hotel” – khách sạn Morin có tên gọi bắt đầu từ đấy. Điều thú vị là vua hề Charlot (Charlie Chaplin) đã chọn khách sạn Morin cho kỳ nghỉ tuần trăng mật của mình và Paulette Godard vào năm 1936.

Năm 1954 người Pháp rút về theo hiệp định Geneve, khách sạn chuyển quyền sở hữu qua tay một thương nhân Việt nam, Ông Nguyễn Văn Yến.

Năm 1957, chính quyền Ngô Đình Diệm mà trực tiếp là ông Ngô Đình Cẩn đã ra lệnh tịch thu toàn bộ cơ sở Morin và cho nhà nước thuê để làm cơ sở Đại học Huế. Sau 30/4/1975, cơ sở này tiếp tục là cơ sở đào tạo của của trường Đại học Tổng hợp Huế cho đến năm 1989, tỉnh TT-Huế  chuyển giao cho Sở Du lịch quản lý. Tuy năm 1989 cơ sở này mới chuyển giao cho Sở Du lịch nhưng kể từ năm 1980 công tác đào tạo của ĐHTH Huế đã chuyển hết về cơ sở 27 Nguyễn Huệ.

Trước 1975, Morin là cơ sở của 2 phân khoa Khoa học và Văn khoa. Sau 1975, dãy nhà trệt phía đường Lê Lợi là Giảng đường C, cơ sở thực tập của khoa Lý, khoa Địa, dãy lầu phía trên dành cho các lớp học.

Khách sạn Morin xưa

Dãy nhà trệt phía đường Trương Định là Giảng đường A, Giảng đường B, cơ sở tiện của thầy Dũng, cơ sở thực tập của khoa Hóa, Khoa Sinh; dãy lầu phía trên là các lớp học. Sinh viên khóa 1 các khoa Tự nhiên Toán Lý Hóa Địa học ở đây 3 năm; các khoa Xã hội chuyển về 27 Nguyễn Huệ từ học kỳ 2 năm 2. Anh em nào đi học bằng xe đạp thì gửi ở phía đường Trương Định do bác Lễ giữ. Tôi có một kỷ niệm với bác Lễ và thầy Dũng sẽ kể cho các bạn vào một dịp khác trên mục “Chuyện Bây Giờ Mới Kể” nếu như TBT đồng ý mở thêm mục này trên diễn đàn.

Năm đầu tiên, tôi ăn ở trọ nhà Vĩnh Hào trên dốc Nam Giao. Ngày đó, tôi và Vĩnh Hào hàng ngày cuốc bộ khoảng  2 cây số từ nhà đến Morin; qua cầu Nam Giao, đi dọc đường Lê Lợi qua trường Quốc Học và Trưng Trắc (trương Đồng Khánh cũ) để đến Morin. Tôi sẽ gọi taxi hoặc tệ lắm là xe “ôm”nếu bây giờ phải đi lại đoạn đường này, tuy nhiên thời kỳ đó ở Huế chỉ vài học sinh, sinh viên có xe đạp – xe máy bị cấm- nên khái niệm “đi học” với chúng tôi khi đó có nghĩa là “cuốc bộ đến trường”. Cái lợi của việc “đi học” là tôi và Vĩnh Hào có thời gian ôn bài. Tôi nhớ hai thằng tranh thủ truy nhau các từ vựng khó Tiếng Nga –như “Ox-ta nha xi ta vit xà” là Stop – dừng!....

Một điều thú vị nữa là “đi học” được đi qua trường nữ trung học Trưng Trắc, được gặp mấy em nữ sinh “Đồng Khánh” Huế xinh đẹp và có dịp “ngẫng mặt” vì đã là sinh viên. Một đặc điểm để phân biệt học sinh và sinh viên thời đó là cách ăn mặc và dáng đi. Học sinh thì phải theo nội quy nhà trường nên ăn măc đồng phục chỉnh tề hơn còn sinh viên thì có gì mặc nấy nên trông “léch thếch” và “bụi”, các năm sau này còn mang cả 2 cái ti vi màu sau đít nữa!. Đi đứng  thì nghếch mặt lên trời như để khẳng định ta đây đã là sinh viên vậy.

Cơ sở Morin nằn gần Thư viện nên những giờ nghỉ anh em thường ghé vào thư viện để đọc hoặc mượn sách. Tôi nhớ Nguyễn Văn Anh có bà chị làm ở thư viện này nên sách nào có một hoặc hai cuốn (như cuốn Cơ sở Vật Lý Đại Cương  - Fundamental of Physics của Alonso Finn) thì đừng bao giờ hỏi mượn mất công!

Phía sau Morin, đường Trương Định gần đường Hùng Vương có một căn nhà nhỏ; đó từng là cơ sở của Tổng hội Sinh viên Huế thời kỳ trước 1975, đầu não của sinh viên học sinh Huế và miền Trung, tổ chức và phát động nhiều phong trào cùng Đà Nẵng, Sài Gòn làm nên những đêm không ngủ;  những đợt đốt xe Mỹ và bãi khóa. Những năm 1971, 1972, lúc đó tôi đang học ở Phan Thanh Giản, Đà Nẵng mỗi lần nghe sinh viên học sinh Huế biểu tình là chúng tôi hưởng ứng bãi khóa. Năm 1971, ngay trước trường Phan Thanh Giản, học sinh các trường Phan Thanh Giản, Phan Châu Trinh và Bán Công  đã chặn, lật và đốt một xe jeep Mỹ ngay gần nhà ông Ngô Quang Trưởng tư lệnh Quân đoàn 1. Sau đó cảnh sát dã chiến đã đến trấn áp và bắn lựu đạn cay vào học sinh làm nên một cuộc bãi khóa hơn 2 tuần. Mọi hoạt động của học sinh Đà Nẵng thời kỳ đó đều theo phong trào ở Huế. Sau này, khi học ở ĐHTH Huế, tôi có dịp tìm hiểu phong trào sinh viên học sinh Huế tại cơ sở này và theo lời kể của bác Lễ giữ xe đạp trong những lúc ngồi chờ tiết học sau. Dịp gặp mặt sau 30 năm ra trường, anh em Toán Lý K1 đã tổ chức một buổi café gặp mặt tại đây để ôn lại kỷ niệm xưa.

Năm thứ Hai, tôi chuyển về nhà Nguyễn Thanh Phúc ở đường Lý Thường Kiệt để gần cư xá hơn – lúc này tôi đăng ký làm dân cư xá 50%: ăn cơm cư xá, nhưng ở ngoài như Đoàn Ngọc Tiến và Đỗ Văn Tấn. Tuy không còn được đi qua trường nữ sinh “Đồng Khánh” nữa nhưng bù lại, được gặp rất nhiều “em” nữ sinh viên ở cư xá. Đường từ 27 Nguyễn Huệ đến Morin cũng gần hơn từ nhà Vĩnh Hào và đôi lúc cũng được Thanh Phúc “đèo” xe đạp đi học. Tôi nói Thanh Phúc “đèo” tôi đi học vì Phúc luôn giành chở,  không cho tôi đạp xe.

Trên đường từ cư xá đến Morin, đối diện Bưu điện trung tâm có một cửa hàng hợp tác xã có bán bánh rán hoặc bánh hấp. Đây là địa chỉ nhiều nữ sinh viên ghé thăm nhất.

Nói về Huế mà không nói về “đặc sản” Huế  là “mưa trên phố Huế” thì chưa lột tả được “nét riêng” của Huế. Mùa mưa ở Huế đến rất sớm, tôi nhớ khoảng tháng Sáu đã bắt đầu mưa, mưa nhiều khi đến cận Tết âm lịch vẫn còn mưa! mỗi tháng mưa một lần, mỗi lần đúng 30 ngày! Huế không mưa thì thôi, nếu mưa thì “dai dẳng” “thâm căn cố đế” nên vào lớp học luôn có mùi ẩm mốc vì tất cả áo quần đều ướt! Anh nào có áo mưa thì chỉ ướt nửa dưới còn không thì ướt toàn thân – thời kỳ đó áo mưa còn hiếm và không phải ai cũng có, đi học thì chỉ che được tập vở trên đầu và… chạy. Sinh viên được cấp tem phiếu 4 mét vải/ năm. Tem phiếu chia ra nhiều ô, mỗi ô được quy định cho một số mặt hàng nhất định như khăn, vải áo, vải quần, áo may ô… mọi thứ đều OK ngoại trừ vải quần, tôi thuộc loại cao nên phải cần 1m2 vải mới may quần được nhưng cửa hàng chỉ bán đúng 1m1 ! do vậy hai năm đầu tôi phải chắp thêm lai quần. Sau này tôi rủ Thanh Phúc cùng mua vải rồi chia nên vấn đề cũng được giải quyết. Cái khó thời đó là cửa hàng mỗi năm chỉ bán đúng một loại vải duy nhất, có lẽ là loại tồi nhất tôi từng biết (cũng có một vài loại vải tốt khác nhưng chỉ dành cho những người làm ở cửa hàng) nên mỗi đợt may áo quần mới thì anh em sinh viên trông…”rất giống nhau”. Loại vải này rất mau hỏng, kèm với thời tiết không giống ai ở Huế, chỉ sau vài tháng là anh em sinh viên đã sắm được “ti vi” mang sau đít đi học rồi!

Không giống như sinh viên thời nay, thời đó sinh viên không phải đóng học phí mà mỗi tháng còn được nhận 18 đồng (nam) và 18 đồng rưỡi (nữ) và 17 ký “lương thực” mà chủ yếu là mì sợi, bo bo hoặc sắn lát khô. Sau này bo bo cũng không còn nữa vì nghe đâu dân Sài gòn tìm mua làm bia hơi, chúng ta chỉ còn sắn lát và khoảng 2 hoặc 3 ký gạo/ tháng. Lâu lâu, thấy có bán hoặc cấp một số nhu yếu phẩm nên mỗi lớp cử một anh chuyên trách khâu này cho lớp nên lớp ta mới có “Thọ Mắm”.

Cơm ở cư xá được chia mỗi suất ăn 5 người, nhà bếp bắt đầu mở cửa lúc 11 giờ trưa và 4 giờ rưỡi chiều. Mỗi suất được để trên mỗi bàn riêng rẽ, tuy nhiên không có người trông coi nên anh nào đến chậm thì có khả năng mất phần hoặc hao hụt rất cao. Do vậy, sau tiết thứ tư, mỗi nhóm sẽ cử một anh về trước để trông ... nồi cơm chờ các chiến hữu khác học xong tiết thứ năm về. Chất lượng cơm cư xá thì không cần nhắc lại vì có lẽ mấy anh em cư xá đã đọc được bài “Sinh viên là một con vật dễ nuôi” do Tôn Thất Phước ở lớp Sử K1 viết – nghe đâu cũng vì bài này nên Phước bị làm khó dễ khi ra trường, phải 4 năm sau mới được gọi về trường thi tốt nghiệp! Trước 1975, nhà tôi và Phước ở gần nhau, đối diện ngã tư Quang Trung, Đà Nẵng nên biết rõ chuyện này. Phước bị ung thư vào nằm ở bệnh viện Chợ Rẫy một thời gian và mất ở Đà Nẵng khoảng năm 2005.

Một vài kỷ niệm tôi còn lưu giữ về Morin nói riêng và Huế nói chung bằng ký ức của mình, chắc có nhiều điểm sai hoặc thiếu sót. Sẽ có một bức tranh toàn cảnh về Morin, về 27 Nguyễn Huệ, về trường ĐHTH Huế hoặc về Huế của các anh em khác sẽ giúp chúng ta có một bức tranh toàn cảnh về Huế trong thời kỳ chúng ta ở mái trường ĐHTH Huế.

Sài Gòn 7/2013
 

 
Bình luận
Gửi bình luận
Họ và tên:
Email
Nội dung: *
Mã kiểm tra:
Nhập mã kiểm tra: *