Tưởng nhớ Thầy Nam

Lê Viết Dũng
Thầy Nam mất trong niềm tiếc thương vô hạn của nhiều thế hệ học trò. Hai tuần nữa Lớp Vật Lý Khóa I của Đại học Tổng hợp Huế (cũ) sẽ tổ chức về lại Huế để kỷ niệm 40 năm ngày vào trường, trong chương trình có ghé thăm Thầy Nam. Tưởng sẽ gặp lại Thầy không ngờ chỉ còn là di ảnh.

Thầy Nam bị bệnh tiểu đường và biến chứng nặng khiến nhiều năm Thầy không nói hoặc cử động được, chỉ ngồi hay nằm. Bao nhiêu năm Chị Mai – vợ Thầy – và hai con đã chăm sóc Thầy hết sức chu đáo. Học trò tới thăm, giao tiếp với Thầy thường phải qua “phiên dịch” của Chị Mai hay các cháu.

So với các bạn trong Lớp, tôi là người có nhiều gắn bó với Thầy Nam, bởi sau khi ra trường, thầy trò thường xuyên gặp nhau qua các hoạt động ở Viện Khoa học Việt Nam (nơi Thầy làm nghiên cứu sinh) và ở Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên Huế (nơi Thầy làm Giám đốc).

Khi chúng tôi vào học năm đầu tiên của đại học, Thầy Nam là giáo viên chủ nhiệm của Lớp Vật lý Khóa I và dạy môn Nga Văn. Lần đầu tiên tiếp xúc với một ngôn ngữ không dùng ký tự la tinh, chúng tôi khá bỡ ngỡ, nhưng Thầy Nam dạy dễ hiểu, dễ học, pha chút dí dỏm. Giáo trình tiếng Nga được biên soạn dành cho khối vật lý nên phần lớn những bài học có nội dung vật lý quen thuộc. Nhờ giáo trình chuyên ngành, các bài giảng sinh động của Thầy Nam (và sau này có thêm Thầy Thông cùng Khoa và Thầy Thanh chuyên Nga Văn cùng dạy) phần lớn chúng tôi có thể đọc sách vật lý bằng tiếng Nga. Sau này chúng tôi còn  học với Thầy Nam môn Điện động lực học, môn học tôi rất yêu thích vì vẻ đẹp tương đối tính hoàn hảo của nó. Về vai trò chủ nhiệm, Thầy Nam gắn kết với Lớp rất sát qua các hoạt động xã hội hay sinh hoạt chung.

Khi còn làm ở Viện Khoa học Việt Nam, Phước và tôi nghe tin Thầy Nam chuyển từ Đại học Khoa học Huế sang làm Giám đốc Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KHCNMT) Thừa Thiên Huế thì rất vui vì thầy mình bây giờ là quan chức nhà nước. Chúng tôi chân thành nghĩ rằng từ một nhà khoa học có tâm huyết, sang vị trí mới Thầy sẽ đóng góp thiết thực cho hoạt động phát triển khoa học của Tỉnh. Những lần ra Hà Nội, Thầy hay ghé thăm chúng tôi, khi ở Viện, khi ở nhà, kể chuyện vui về Huế hay công việc hiện tại của Thầy.

Thầy đã đưa tôi từ Viện Vật lý về làm ở Sở KHCNMT của Thầy năm 1998. Tôi được “đặc cách” là Trưởng Phòng Thông tin Tư liệu và Sở hữu Công nghiệp của Sở. Trong thời gian này tôi còn làm Tổ trưởng Tổ công nghệ thông tin (CNTT) của Ban điều hành CNTT của Tỉnh chuyên đề xuất và tổ chức các hoạt động ứng dụng CNTT trong Tỉnh theo đề nghị của Thầy Nam với vai trò lãnh đạo sở chuyên trách về CNTT (lúc đó chưa có Sở Thông tin và Truyền thông). Một hoạt động đáng nhớ lúc đó là tôi đã tự tìm hiểu, xây dựng mạng máy tính của Sở KHCNMT với sự động viên của Thầy Nam.

Lúc này CNTT trong nước đang ở giai đoạn bùng nổ, Internet vừa được cho phép thiết lập ở Việt Nam (năm 1998), CNTT đã được các nhà khoa học nổi tiếng như Nguyễn Đình Ngọc, Phan Đình Diệu, Chu Hảo… tham mưu cho các lãnh đạo đảng và nhà nước về các chính sách phát triển. Ai cũng hy vọng đây là lĩnh vực mới sẽ giúp đất nước tạo nên sự khác biệt mang tính đột phá, tin rằng ứng dụng CNTT rộng rãi sẽ mang lại năng suất lao động và sự minh bạch trong quản lý nhà nước.

Trong không khí sôi động của xã hội hướng về CNTT lúc đó, Thầy Nam khởi xướng đề án thành lập một đơn vị làm phần mềm của Tỉnh với sự trợ giúp ý tưởng của một số chuyên gia từ Hà Nội trình lên UBND Tỉnh. Đề án này có quy mô và kỳ vọng khá lớn và tác động của nó là được UBND Tỉnh cho phép  thành lập một Trung tâm Công nghệ Phần mềm (CNPM) trực thuộc Sở KHCNMT và tôi được giao phụ trách. Chủ tịch UBND Tỉnh lúc đó là Anh Nguyễn Văn Mễ (sau này tôi được biết là một học sinh xuất sắc toàn trường của Trường Quốc Học Huế trước khi thoát ly) rất tâm huyết với viễn cảnh, trong tình hình đổi mới và hội nhập của đất nước, Thừa Thiên Huế sẽ là một thành phố phát triển CNTT đặc sắc của Việt Nam. Anh Mễ lúc đó ủng hộ, động viên khuyến khích, cho nhiều cơ chế đặc thù để phát triển CNTT, đặc biệt là cơ sở hạ tầng. Dựa vào chủ trương của lãnh đạo Tỉnh, Thầy Nam đã trình nhiều văn bản nhằm hiện thực hóa chủ trương này và Trung tâm CNPM đã ra đời trong bối cảnh đó vào cuối năm 2000. Sau này do nhu cầu phát triển, Trung tâm CNPM được UBND Tỉnh nâng lên thành Trung tâm Công nghệ Thông tin trực thuộc UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế.

Một số thành tựu mà Trung tâm đã làm được, bây giờ thì thấy rất bình thường, nhưng vào thời kỳ đầu của các năm 2000 là những nỗ lực: Thừa Thiên Huế đăng cai tổ chức ngày môi trường thế giới năm 2001, xây dựng website Huế Xanh kết nối Việt Nam và thế giới; khai trương website thông tin của tỉnh Thừa Thiên Huế; tổ chức hội thảo quốc gia về CNTT năm 2003; tổ chức tin học hóa các hoạt động quản lý nhà nước tại một số cơ quan của Tỉnh… Khi đã trưởng thành, Trung tâm tham gia xây dựng các dự án khả thi về CNTT, thiết kế và phát triển các phần mềm dùng chung, triển khai các phần mềm tại các tỉnh và đào tạo tin học cho cán bộ công chức theo Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước của Chính phủ. Tất cả các hoạt động đó đều có sự hỗ trợ tích cực của Chủ tịch UBND Tỉnh Nguyễn Văn Mễ và Giám đốc Sở Đỗ Nam.

Thầy Nam nắm bắt các tri thức về CNTT (và cả lĩnh vực môi trường nữa khi chức năng quản lý môi trường đang được giao về cho Sở KHCNMT) rất nhanh. Thầy đã mang lại uy tín cho Thừa Thiên Huế khi tổ chức và tham dự phát biểu trong các hội thảo CNTT, góp phần thúc đẩy sự phát triển CNTT của Tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua tổ chức làm các đề tài ứng dụng CNTT áp dụng vào thực tế, thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực CNTT thông qua việc thành lập đội ngũ CNTT và trực tiếp đào tạo. Thừa Thiên Huế thời gian đó đứng vào top 5 trong các tỉnh/thành của cả nước về ứng dụng và phát triển CNTT (ICT index).

Tôi nhận ra rằng nếu lãnh đạo làm không vị lợi, làm với tâm huyết phát triển xã hội, đất nước thì thường thành công. Trái lại, nhiều dự án được cung cấp nguồn lực lớn nhưng không mang lại hiệu quả vì có lợi ích nhóm. Mặt khác, ở quy mô lớn phải có sự tham gia tích cực đồng bộ cùng quyết tâm của cấp lãnh đạo cao nhất (như UBND Tỉnh) về mặt chủ trương, của cấp tham mưu (như cấp Sở) về tổ chức thực hiện và sau cùng là của những người thực hiện. Cho đến giờ và mãi về sau nữa chúng tôi quý mến, gắn bó, kính trọng nhau thông qua những tháng ngày cống hiến như vậy bằng tấm lòng của mình. Khi hồi tưởng lại những ngày sôi động đó tôi cảm thấy hạnh phúc và may mắn vì đã được làm việc với những người như Anh Mễ và Thầy Nam.

Thầy Nam thích nghi nhanh với môi trường quản lý nhà nước và từ một người làm khoa học chuyển sang cơ quan quản lý nhà nước Thầy đã không bị quán tính của các thói quen hành chính hạn chế tư duy của mình. Tại Sở KHCNMT Thầy đã đổi mới hoạt động quản lý, tổ chức công việc rất hợp lý, các đề tài, dự án dưới sự phê duyệt của Thầy có tính khoa học cao. Thầy nắm bắt nhanh các vấn đề của thời đại (CNTT, môi trường, ISO, quản lý dự án…), làm cho đơn giản, dễ hiểu và tổ chức áp dụng chúng ở mức cao nhất có thể được.

Thầy Nam ứng xử với cấp trên chân thành, thẳng thắn; với ngang cấp thì tôn trọng, phối hợp và với cấp dưới thì nghiêm túc nhưng khoan dung. Thầy nói chuyện dí dỏm, thường hay kể chuyện vui và đã tri thiên mệnh đến mức không cho việc gì là quan trọng cả.

Trong cơn xúc động vì sự ra đi của Thầy em có vài kỷ niệm riêng tư như vậy kể lại với bạn bè. Em mong Thầy ra đi thanh thản và an vui ở cõi vĩnh hằng.

 

 
Bình luận
Gửi bình luận
Họ và tên:
Email
Nội dung: *
Mã kiểm tra:
Nhập mã kiểm tra: *