Bóng câu qua cửa…

Nguyễn Thị Nguyệt Nga
Tưởng nhớ Thầy Nam và các bạn đã khuất

Vừa rồi lại nghe tin Ba Vĩnh Hào mất. Sự ra đi của Ba Hào đã trả lời một câu hỏi trong bài viết này của tôi và làm tôi nhớ đến nhiệm vụ chưa hoàn thành: Viết bài về Thầy Nam và hai bạn Trung, Hải. Thực tế tôi đã viết xong từ năm ngoái nhưng còn đang dang dở vì thiếu dấu.

Trong năm 2017, chỉ vỏn vẹn trong vòng hơn hai tháng, Lớp Lý Khóa I của chúng ta đã mất đi hai người bạn và một thầy chủ nhiệm. Tin buồn dồn dập bay đến làm tôi rất đỗi sửng sốt và bàng hoàng.  Tôi thẫn thờ nhìn ra cửa sổ thấy con bồ câu trắng đậu một lát trên balcon rồi bay đi, chợt nhớ đến câu “Đời người như bóng câu qua cửa sổ”…

Lúc nhận tin Trung, Hải mất, Quốc Tuấn từ Los Ạngeles gọi cho tôi. Câu đầu tiên Tuấn hỏi thăm sức khỏe của tôi “Nga có khỏe không? Tôi cảm động trước câu thăm hỏi đơn giản của Tuấn vì lần này thì khác, tôi nhận ra sự ân cần, lưu tâm trong giọng nói trầm trầm thân thiết của Tuấn.

Sau những sự mất mát lớn đó, bạn bè trở nên quan tâm sức khỏe lẫn nhau hơn, chúng ta đều nhận ra rằng những biến cố tương tự sẽ vẫn còn tiếp diễn. Phước và tôi qua điện thoại cùng ngậm ngùi vì sự ra đi quá đột ngột của hai bạn Trung và Hải. Tôi hứa sẽ viết một bài tưởng nhớ đến Thanh Trung nhưng sau đó, tôi không thực hiện được ngay vì một vài tai nạn nho nhỏ đã dồn dập xảy ra với tôi.

Vừa xong công việc mùa hè ở trường, tôi mới thực sự rảnh rỗi, mở website của lớp và nhận ra rằng hôm nay là ngày giỗ 100 ngày của Nguyễn Thanh Trung. Con số 100 thật là đẹp và tròn trịa, nhưng mấy ai sống đến 100 tuổi nhỉ? Ngày xưa, thất thập đã là “cổ lai hy” rồi. Trung, Hải(60) và Thầy Nam(gần 70) có thể xem như là thọ, nhưng ngày nay đối với sự tiến bộ của khoa học, tuổi thọ trung bình ngày càng cao nên sự ra đi của hai bạn và Thầy vẫn còn quá sớm và là sự mất mát lớn lao đối với lớp chúng ta. 

Trung và tôi cùng ở cư xá Thiên Hữu, chúng tôi đều là dân Đà Nẵng ra Huế học. Dãy phòng đầu tiêncủa cư xá là phòng nữ của tất cả các khoa. Lớp Lý Khóa I có 3 nữ, chỉ có mỗi mình tôi là ở cư xá.

Trung và các bạn ở Đà Nẵng khác như Sinh,Tấn, Thiện và Vũ cư ngụ tại dãy phòng nam nằmsong song ở phía saudãy phòng nữ. Thời ấy, sinh viên nội trú chúng tôi ăn uống rất kham khổ, năm đầu là khoai,sắn khô độn những hạt cơm lấm tấm, canh toàn quốc, sau đó là bo bo. Hạt bo bo được dân vật lý chúng tôi gọi là hạt bảo toàn vì vào thế nào thì đi ra như thế ấy. Tôi vốn dĩ kén ăn, vì đã được mẹ tôi nuôi bằng những thức ăn giàu dinh dưỡng đôi khi có thể gọi là sơn hào hải vị từ bé. Sau nầy gia đình tôi sa sút, nhưng mẹ tôi khéo thu vén nên lúc nào cũng có bữa cơm tươm tất cho gia đình. Cho nên lúc ấy tuy là “con nhà lính” nhưng tôi vẫn “tính nhà quan”.Quả thực bữa ăn cư xá, tôi không thể nào nuốt trôi nổi. Tuy nhiên“có thực mới vực được đạo”, bấy giờ tôi mớithực sự hiểu câu tục ngữ này. Vì ăn uống thiếu dinh dưỡng, kết quả học tập của đa số sinh viên nội trú phần lớn có sút hơn sinh viên ngoại trú.Trong đám sinh viên nội trú, Thanh Trung có được kết quả tốt hơn cả.Tôi nhớ có lần họp lớp, chia sẻ kinh nghiệm học tập của mình, Trung nói gọn một chữ: “Cày ”.TheoThanh Trung,học ngày, học đêm, cày tới cày lui, nhai đi nhai lại nhiều lần, bất cứ khi nào và bất kỳ nơi đâu thì kiến thức mới ghi đậm vào bộ nhớ được. Là người có ý chí và nghị lực cao, Trung tuân thủ quitắcnày một cách nghiêm túc. Buồn cười nhất, có một lần tôi dẫn Thu Hà vào cư xá, chúng tôi thấy Thanh Trung ngồi chồm hổm giữa đường học bài. Tay Trung cầm thanh cây khô nhỏ, hý hoáy viết bài trên mặt đất. Dù cũng là “con mọt sách”,Trung không có một vẻ đạo mạo như Thông hay trầm tư như Dũng. Trái lại, Trung là người sôi nổi, nghịch ngợm, và nói nhiều. Nhớ vào cuối năm thứ hai, cả lớp được học môn võ thể dục. Môn thể dục nầy khá thú vị, những thế võ có tên sặc mùi kiếm hiệp như: "Chảo mả",  "Vén mây nhìn trời”...   Tôi sửa lại là "Chạp mả" nghĩa theo tiếng Huế là "cắt tóc trọc lóc". Còn Trung thì tinh nghịch hơn, sau khi tập xong thế võ thứ hai, Trungđi nhè nhẹ đến chỗ Thu Hà ngồi, từ từ dỡ mũ Hà lên và cười hì hì "Vén mũ xem mặt"! Tuy Trung hay đùa giỡn, nhưng đôi khi lại cộc cằn và có phần cay cú với cuộc đời. Có lần tâm sự với tôi, Trung nói “Viết Dũng nhìn đời qua lăng kính màu hồng, còn tui phải nhìn đời quá lăng kính màu xám!”. Trung không kể cho tôi nghe về gia đình mình, lúcđó tôi chỉ đoán gia đình Trung chắc gặp khó khăn. Nay đọc tiểu sử của Trung qua bài văn tế của Viện ISB,“…tuổi thơ ông đầy dẫy nỗi vất vả khó khăn của chiến tranh loạn lạc…” tôi mới hiểu tại sao đôi khi Trung trở thành người hai mặt và tư tưởng có phần yếm thế như vậy.

Cũng vào năm ấy, Thầy Nam dạy môn Điện động lực học. Đây là môn học hay, nhưng khá khó nuốt. Mỗi lần Thầy lên bục thường chỉ viết một mạch trên bảng đen lớn đầy những công thức toán lý rất cao cấp làm cho chúng tôi ngần ngơ chẳng kém gì môn Cơ lựơng tử của thầy Trứ mà ngay Thầy cũng ngửng mặt lên trời và than rằng“Cơ huyền diệu lẽtrời không thấu!”. Thầy Nam ít giải thích bài chi tiết như thầy Trứ. Erằngsinh viên sẽ bị điểm thấpảnh hưởng đến phong trào học tập của lớp, Ban học tập gồm Thông, Dũng quyết định phân chia lớp thành những nhóm học tập để giúp đỡ lẫn nhau vượt qua cửa ải này. Trung được phân làm tổ trường tổ học tập 5 người,   có 4 ngườilà dân Đà nẵng. Nhờ học tổ, thảo luận, trao đổi lẫn nhau, chúng tôi hiểu bài sâu hơn và học lý thuyết dễ nhớ hơn. Tối hôm trước khi thi môn Điện động lực cư xá đột nhiên bị cúp điện. Tôi hoảng hốt vì còn ba chương chưa ôn lại. Trung quyết định dẫn cả tổ đi bộ ra công viên nhỏ đối diện cư xá Y khoa.  Trời đã nhá nhem tối, nhưng lúc chúng tôi đến nơi, những cây trụ điện sáng choang toả ánh sáng màu xanh pha tím trên hàng cây rủ hoa mimosa vàng rực. Cảnh đẹp như thực như ảo khiến Vũ phải thốt lên “Chà, tuyệt quá, nếu có máy ảnh mình chụp một cái làm kỷ niệm hỉ” khi Trung, Vũ và tôi ngồi trên bãi cỏ xanh nõn mơn mởn ôn lại bài.  Trung rất nhiệt tình và vui vẻ giải thích cặn kẻ cho nhóm.  Kết quảlàtổ tôi, ai cũng qua được môn học hóc búa này, đạt điểm giỏi và khá. Tôi vẫn còn nhớ mãi hình ảnh đẹp nhất của Trung và tổ học tập chúng tôi trong đêm ôn bài thi năm đó.  Tuy học hành rất cần cù và quá chăm chỉ, Trung vẫn là sinh viên tiên tiến không bắt kịp được Thông. Trung là người giàu nghị lực, quyết tâm theo đuổi tới cùng để đạt được mục đích trong học tập cũng như trong tình cảm.  Trung yêu LT lớp Sinh, theo đuổi LT từ thời phổ thông lên đến đại học tuy LT đã có người yêu. Mãi đến năm thứ tư sắp ra trường, thì may mắn đến với Trung. Khi LT chia tay với người yêu, đang ở tâm trạng buồn chán, Trung liền chụp ngay cơ hội tấn công và cuối cùng LT đã chấp nhận tình cảm của Trung. Trong nỗi vui vì được đáp lại, Trung tâm sự với tôi, kể cho tôi nghe chuyện tình của Trung và LT vì Trung biết tính tôi nghiêm trang và kín đáo, nhiều sinh viên trong và ngoài lớp rất mến và tin tưởng tôi.  Tôi như là một cái kho để các bạn đến trút bầu tâm sự,mong có sự cảm thông và tham vấn. Tự nhiên tôi trở thành cố vấn tình yêu hay nói nôm na là quân sư quạt mo.  Bạn bè tin tưởng bí mật của mình sẽ được giữ kín vì tôi không phải là kẻnhiều chuyện để tung tin, phân tán khắp nơi.  Nhờ tình yêuđượcthăng hoa, năm đó lần đầu tiên Trung vinh quang đạt danh hiệu sinh viên xuất sắc,ngang hàng với Thông. Tiếc rằng khi ra trường thì Trung và LT chia tay và sau đó Trung chuyển vào làm việc ở thành phố HCM.

Đến cuối năm 4, tôi làm khóa luậnvà được phân công làm chung đề tài luận văn với Trung: Nghiên cứu vàthiết kế máy dao động ký dải tần rộng do Thầy Tường hướng dẫn.Phần tôi làm nhẹ hơn phần của Trung: Tôi phụ trách thiết kế bộ biến điện và mạch đa hài của máy dao động ký, Trung làm bộ khuếch đại, các phần phụ khác và lắp ráp toàn thể máy. Thử thách lớn với tôi là thiếu linh kiện: Linh kiện trong kho của Khoa chất lượng kém và không đủ cho thí nghiệm.  Theo lời khuyên củaNgọc Tiến, tôi lang thang ởChợ trời Tây Lộc để tìm mua các vật liệu và linh kiện cần dùng.  Bàn tay “tháp bút trắng trẻo ngọc ngà” của tôi bị sứt mẻ, nám cháy, thậm chí rỉ máu vì phải khoan đục lỗ, kéo dây đồng biến thế và hàn để chạy dây cho mạch điện. Tuy phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, cuối cùng chúng tôi cũng hoàn thành và bảo vệ thành công luận văn chung. Cùng học tập và làm việc với Trung, tôi khâm phục tính kiên nhẫn, cần cù, quyết tâm đạt cho kỳ được mục đích của Trung.

Tôi ra trường và dạy Vật lý tại một trường trung cấp ở gần Đà Nẵng.  Mười năm sau, tôi rời quê hương cùng gia đình sang định cư ở Mỹ.  Khoảng năm 2001, tinh cờ mở email, tôi ngạc nhiên khi nhận đượctincủa Trung.  Trung hỏi tôi phương pháp học Anh ngữ thế nào cho chóng có hiệu quả, tôi email cho Trungvề phương pháp học tiếng Anh của tôi và chúc Trung thành công. Chúng tôi vẫn thỉnh thoảng liên lạc với nhau qua email. Vài tháng sau, Trung cho biết đã theo học chương trình cao học vềweb, sau đó thì bặt tin luôn. Đọc tiểu sử của Trung, giờ tôi mới biết Trung lấy được hai bằng về đại học về Anh Văn và Máy tính trong khoảng thời gian đó. 

“Tôi cứ ngỡ và tưởng sẽ không bao giờ gặp Huế” (Thơ Thu Bồn). Hai mươi năm sau, tôi bất ngờtrở lại quê hương nhân dịp lễ kỷ niệm 30 năm ngày ra trường. Gặp lại Trung ở Phi trường Tân Sơn Nhất, tôi rất đỗi ngạc nhiên khi thấy nhìn Trung rất trẻ, có thể nói nếu nhìn sơ qua Trung còn trẻ hơn cả thời sinh viên.  Có lẽ cũng nhờ da Trung trắng hơn xưa và nụ cười rạng rỡ của một người đã thành đạt.  Trung vẫn năng động vui tươi, vẫn nụ cười hồ hởi trên môi khoe hàm răng trắng đều đặn.

Tôi chỉ ở lại thành phố HCM một tiếng rồi bay ra Đà Nẵng. Trung cũng ra Đà Nẵngnhưng ở chuyến bay sau. Trung nhiệt tình giúp tôi cân và chuyển hành lý. Sợ quá tải, Trung đề nghị để Trung giữ một vali nhỏ lại nhập vào hành lý của Trung. Đang gấp rút, tôi gật đầu đồng ý. Nhưng khi đến Đà Nẵng,bước xuống xe, Trungkể chiếc valy nhỏ của tôi đã gây phiền phức. Trung cho biết hải quan đã phát hiện những chai đựng chất lỏng trong valy và sợ rằng đó là chất nổ, đề nghị bỏ lại. Cũng may cho tôi,Trung nhanh trí nói đó là nước hoa, hải quan ngửi thấy mùi hoa hồng nên cho qua.Đúng đấy là những lọ nước hoa hồngdo tôi tự bào chế để làm quà tặng. Tôi thầm phục sự lanh lẹ và nhanh trí của Trung đã bảo vệ được sản phẩm của tôi thoát khỏi ải hải quan. Các bạn Lớp Lý Khóa I ở Sài Gòn tổ chức họp mặt lần cuối tại Sài Gòn trước khi tôi về Mỹ. Lúc ấy tôi đi cùng với Loan em tôi đang đi công tác tại Sài Gòn. Tôi giới thiệu Loan với bạn bè Lớp Lý Khóa I ở Sài Gòn. Loan và Trung nói chuyện thật rôm rả. Thì ra trước kiaTrung cũng làm trong ngành bưu điện nhưLoan. Để mưu sinh cho cuộc sống của gia đình, Trung đã bôn ba làm nhiều ngành nghề và học tập không hề mệt mỏi. Cuộc hành trình của tôi quá ngắn ngủi chỉ vỏn vẹn trong vòng 14 ngày, nhưng trong tôi còn đầy ắp những kỷ niệm đẹp về những tình cảmthân thương của cácbạnvà các Thầy Cô của Khoa Toán Lý.  Lúc về Mỹthỉnh thoảng tôi vẫn cười một mình khi nhớ đến hình ảnh Trung nhảy lên bàn để chứng minh những lời Trung kể với tôi là sự thật. Trên giảng đường, Trung hẳn là một giáo sư đại học mẫu mực, nhưng trước bạn bèTrung vẫn là cậu sinh viên nghịch ngợm, bướng bỉnh của thời sinh viên xa xưa.

Lúc chia ngành nghề, tôi chọn ngành vật lý thực nghiệm, Tô Kim Hải trở thành tổ trưởng tổ tôi. Tôi thường gọi đùa Hải là “Tô Tổ Trưởng”. Sau hai chục năm, Hải vẫn cao lêu khêu, nhưng có phần nở da nở thịt hơn xưa. Hải là mẫu người tình tính dễ dãi, phóng khoáng và hay quan tâm đến người khác.  Thời sinh viên, Thanh Hà và Hải thường xuyên vào cư xá mỗi chiều để chơi thể thao nên hai ban hiểu rõ sự thiếu thốn về dinh dưỡng của các bạn ở cư xá. Tôi còn nhớ có lần Hải khệ nệ ôm một bao đào lớn hái từ nhà Thanh Hà, cùng Thanh Hàđem vô cho anh em cư xá, chia cho mọi người ăn. Vũ đưa cho tôi một quả theo tiêu chuẩn, nhưng Hải bảo “ Sao Nga chỉ có một quả?” Hải vừa nói vừa đưa thêm cho tôi một quả đào lớn nữa và liếc nhìn vào bàn tay Thanh Hà đang cầm trái cốc “Của chua phải để dành cho phụ nữ mới đúng”. Tôi mỉm cười và trong bụng thầm cảm ơn sự ưu ái của Hải. Về lại Cali, Hải và tôi thỉnh thoảng liên lạc, đấu khẩu với nhau qua email. Hải về hưu sớm nhưng tôi không biết lý do. Cho đến khi Hải mất thì tôi mới biết Hải có bệnh tim. Email cuối cùng,Hải nhắn tôi rằng “Năm nay Nga ráng về họp lớp nhá”. Tôi phải thắp một nén hương lòng xin lỗi Hải vì tôi đã không về được.

Thầy Nam là chủ nhiệm lớp tôi, nhưng tôi không gần gũi với Thầy như Thu Hà và Nhóm Vật lý Lý thuyết. Năm 2011, gặp Thầy trong buổi tiệc ở Morin, thấy Thầy khỏe nên tôi không nghĩ Thầy bị bệnh tiểu đường nặng. Rồi Thầy cũng lẳng lặng ra đi như Trung và Hải. Nhìn trang web có ảnh chụp bàn thờ Thầy Nam, ngoài cửa sổ thấp thoáng bóng cây cau cao chót vót rợp bóng.  Khi Thầy còn ở Bãi Dâu, có một lần tôi cùng các bạn trong lớp đến thăm Thầy. Từ con đường chính vào nhà thầy phải đi bộ khá xa dọc theo con đường mòn. Hai bên đường là những hàng cau cao vút lá xanh mươn mướt. Tôi nghĩ đến các hàng cau ở Thôn Vỹ Dạ và chợt nhớ đến bài thơ Hàn Mặc Tử: 

Sao anh không vềchơi Thôn Vỹ, 

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên,

Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

 

Suốt mấy chục năm ở nước ngoài, hình ảnh vườn cau đẹp rạng ngời vẫn in đậm trong tâm trí tôi. Hễ ai ở Cali du lịch Huế Việt Nam trở về, tôi cũng hỏi có ghé qua Thôn Vỹ hay không?  Rồi có người quen nói với tôi Thôn Vỹ đã bị đô thị hóa không còn vẻ đẹp nên thơ như ngày xưa nữa, về thăm sẽ thất vọng thôi.  Tôi sợ hình ảnh đẹp trong trí tôi bị phá hủy một cách tàn nhẫn, nên tôi không có ý định thăm lại Thôn Vỹ trong đợt về Huế sáu năm trước.

Thầy Nam không khô khan như vẻ bên ngoài của Thầy, Thầy còn là một nhà thơ nữa. Thầy có cho chúng tôi xem một số thơ của Thầy. Cả Thanh Trung cũng là thi sĩ đấy!Trung ít khi làm thơ, nhưng thơ của Trung có âm điệu lạ, sâu sắc. Tôi có đọc và chép lại một bài thơ hay của Trung, không may đã thất lạc. Các bạn Vũ, Tấn hay bạn nào còn giữ được bài thơ nào của Trung thì đăng lên website của Lớp cho các bạn cùng thưởng thức nhé.

Tôi tần ngần cầm cuốn sổ nhỏ cũ kỹ thời sinh viên còn sót lại mà tôi lôi ra từ tận đáy rương. Có những trang đã bong lề ngả màu vàng úa. Rất tình cờ, một đoạn thơ của Algernon Charles Swinburne trong cuốn Tâm Cảnh của André Maurois vương vào mắt tôi. Tôi chậm rãi đọc từng chữ trong nỗi bùi ngùi:

That no life lives for ever,

That dead men rise up never

That even the weariest river

Winds somewhere safe to sea …

tạm dịch

Vì không có kiếp sống nào vô tận

Vì không có kẻ nào chết đi còn sống lại mãi

Vì đến cả dòng sông mệt mỏi nhất

Kết cuộc cũng chảy ra tới biển…

 

Nguyễn Thị Nguyệt Nga

July 29, 2017

 

 

 
Bình luận
Gửi bình luận
Họ và tên:
Email
Nội dung: *
Mã kiểm tra:
Nhập mã kiểm tra: *